Aug
4
庐州月 – 许嵩 / Vae 
Lú Zhōu Yuè - Xǔ Sōng - Vae
Lư Châu Nguyệt (Trăng Lư Châu) - Hứa Tung
儿时凿壁偷了谁家的光
ér shí záo bì tōu le shuí jiā de guāng
Thuở nhỏ đục tường nhà ai để lấy trộm ánh sáng
宿昔不梳 一苦十年寒窗
sù xī bù shū yì kǔ shí nián hán chuāng
Khoảng thời gian xưa mười năm khổ luyện đèn sách
如今灯下闲读 红袖添香
rú jīn dēng xià xián dú hóng xiù tiān xiāng
Giờ đây dưới ánh đèn, nhàn hạ đọc “Hồng tụ thiêm hương”
半生浮名只是虚妄
bàn shēng fú míng zhǐ shì xū wàng
Hư danh nửa đời chỉ là vô căn cứ
三月 一路烟霞 莺飞草长
sān yuè yí lù yān xiá yīng fēi cǎo cháng
Tháng ba đi cùng mây mù, chim oanh tung cánh, cỏ cây đâm chồi
柳絮纷飞里看见了故乡
liǔ xù fēn fēi lǐ kàn jiàn le gù xiāng
Trong bông liễu bay tả tơi tôi nhìn thấy cố hương
不知心上的你是否还在庐阳
bù zhī xīn shàng de nǐ shì fǒu hái zài lú yáng
Không biết em ở trong lòng giờ đây phải chăng còn ở Lư Dương?
一缕青丝一生珍藏
yì lǚ qīng sī yì shēng zhēn cáng
Một lọn tóc đen một đời gìn giữ
桥上的恋人入对出双
qiáo shàng de liàn rén rù duì chū shuāng
Từng đôi tình nhân trên cầu đều có đôi có cặp
桥边红药叹夜太漫长
qiáo biān hóng yào tàn yè tài màn cháng
Để lại đóa thược dược ven cầu mãi thở than sao đêm dài vô tận
月也摇晃 人也彷徨
yuè yě yáo huàng rén yě páng huáng
Trăng cũng lung lay và người cũng do dự
乌蓬里传来了一曲离殇
wū péng lǐ chuán lái le yì qǔ lí shāng
Từ trong thuyền xưa vọng lại một khúc ly biệt đau thương
庐州月光 洒在心上
lú zhōu yuè guāng sǎ zài xīn shàng
Ánh trăng Lư Châu rắc lên trái tim tôi
月下的你不复当年模样
yuè xià de nǐ bú fù dāng nián mú yàng
Và em dưới ánh trăng đã không trở về bóng hình thưở ấy
太多的伤 难诉衷肠
tài duō de shāng nán sù zhōng cháng
Nỗi đau thật nhiều và khó kể hết nỗi lòng
叹一句当时只道是寻常
tàn yí gòu dāng shí zhǐ dào shì xún cháng
Ngâm câu ca: "Đương thời chỉ đạo thị tầm thường"
庐州「lú zhōu」"Lư Châu". phủ Lư Châu cũ, nay là Hợp Phì, tỉnh An Huy Trung Quốc.

凿壁偷光「záo bì tōu guāng」Tạc bích thâu quang.
Đục (khoét) tường để lấy trộm ánh sáng: Hiếu học, vượt qua mọi khó khăn để học tập (Do sử tích: Khuông Hành (Hoành) rất hiếu học, nhưng nhà lại quá nghèo. Khuông phải khoét vách cho ánh sáng nhà hàng xóm lọt sang để học).
宿昔不梳「sù xī bù shū」Túc tích bất sơ.
Thuở xưa sớm tối không chải tóc (Trích một câu trong: Tử Dạ Ca (văn học cổ điển Trung Quốc, đời Tấn) Xưa kia sớm tối không chải tóc, tóc xõa xuống hai vai). Qúa bận rộn đến nỗi không có dư thời gian để mà rửa mặt chải đầu.
十年寒窗「shí nián hán chuāng」Thập niên hàn song.
Mười năm bên cửa sổ lạnh: Bao năm đèn sách, mười năm gian khổ luyện tập đèn sách.
红袖添香「hóng xiù tiān xiāng」Hồng tụ thiêm hương.
Xuất xứ từ truyện: (Hoa Nguyệt Ngân) của Ngụy Tử An (đời Thanh), ý nói thư sinh trong lúc học tập có thiếu nữ xinh đẹp kề bên học cùng. Hồng tụ: nói về những thiếu nữ áo quần xinh tươi diễm lệ. cả câu trong bài hát có ý nói: Ngày xưa khổ luyện còn ngày nay lại có thời gian rãnh rỗi đọc truyện mỹ nữ.
三月一路烟霞 莺飞草长「sān yuè yí lù yān xiá yīng fēi cǎo cháng」Tam nguyệt nhất lộ yên hà oanh phi thảo trường.
Tháng ba ráng mây theo cỏ xanh oanh múa. tháng 3 đi cùng mây mù, chim oanh tung cánh, cỏ cây đâm chồi. Xuất xứ từ một bộ sách của Lương Khâu Trí (Nam Triều) trong đó có câu: "暮春三月,江南草长,杂花生树,群莺乱飞" chỉ nét đẹp tiết trời cuối xuân. Trong Truyện Kiều cũng có câu:
“Thanh minh trong tiết tháng ba, lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến oanh, chị em sắm sửa bộ hành du xuân.” có lẽ cũng mang nghĩa này.
一缕青丝一生珍藏「yì lǚ qīng sī yì shēng zhēn cáng」Nhất lũ thanh ti nhất sanh trân tàng.
Một lọn tóc đen, cả đời gìn giữ. Sợi tóc là vật dẫn (phương tiện truyền đạt) tình cảm của các cô gái thời cổ của Trung Quốc, thường gửi gắm cho người đàn ông mà nàng thương yêu cất giữ. ở Việt Nam ta các cô gái thời xưa cũng thường dùng chiếc khăn tay để làm vật tín với người yêu.
桥边红药叹夜太漫长「qiáo biān hóng yào tàn yè tài màn cháng」Kiều biên hồng dược thán dạ thái mạn trường.
Thược dược than dài nức nở dạ miên. để lại đóa thược dược ven cầu mãi thở than sao đêm dài vô tận.
Trong bài thơ ”Dương Châu mạn” của Khương Quỳ có hai câu thơ:
"二十四桥仍在,波心荡,冷月无声。念桥边红药,年年知为谁生。"
“Nhị thập tứ kiều nhưng tại, ba tâm đãng, lãnh nguyệt vô thanh. Niệm kiều biên hồng dược, niên niên tri vi thùy sanh.”
Kể rằng những đóa hoa thược dược bên cầu hằng năm vẫn nở rộ, hoa lá xum xuê, nhưng lại không có ai đến thưởng thức, không biết hoa vì ai mà nở, mà sinh ra? Trong bài nói đến sự cô đơn, người người đều có đôi có cặp, chỉ còn mình lẻ loi.
庐阳「lú yáng」"Lư Dương". (đời nhà Minh) Hợp Phì có biệt danh là Lư Dương, ngày nay ở Hợp Phì có khu du lịch là "Lư Dương tám cảnh"
乌篷里传来了一曲离殇「wū péng lǐ chuán lái le yì qǔ lí shāng」Ô bồng lí truyện lai liễu nhất khúc li thương.
Ô bồng thuyền sầu não khúc chia ly. Nguyên văn ở đây là từ trong ô bồng (chiếc thuyền) xưa vọng lại một khúc ly biệt đau thương.
叹一句当时只道是寻常「tàn yí gòu dāng shí zhǐ dào shì xún cháng」Thán nhất cú đương thì chỉ đạo thị tầm thường.
Ngâm khúc đương thời nhẹ bẫng thường chi, "ngâm khúc đương thời chỉ đạo thị tầm thường" là một câu thơ của nhà thơ Nạp Lan Tính Đức, nói lên sự hối hận chạy theo hạnh phúc mình đã lỡ đánh mất đi. Để giờ đây cảm giác rằng cuộc sống sao quá tầm thường. Muốn được cùng người ấy lại một lần nữa, nhưng có lẽ chỉ là trong mơ. Nếu sớm biết được tình cảnh thê lương này, thì giờ đây đã có thể tiếp tục những khoảng thời gian hạnh phúc bên người ấy. Nó sẽ khắc ghi mãi trong tim, mất rồi mới phát hiện…
庐州月光 梨花雨凉「lú zhōu yuè guāng lí huā yǔ liáng」Lư Châu nguyệt quang lê hoa vũ lương.
Câu này được trích từ: 《长恨歌》“玉容寂寞泪阑干,梨花一枝春带雨。”
《Trường hận ca 》"Ngọc dung tịch mịch lệ lan kiền, lê hoa nhất chi xuân đái vũ."
Nghĩa là: "Trăng Lư Châu đẹp như hoa lê dính / đọng hạt nước mưa". Nguyên bản trong 1 bài thơ Bạch Cư Dị dùng để miêu tả vẻ đẹp của Dương quý phi khi nàng khóc.
Sau này người ta thường dùng “梨花带雨” để miêu tả vẻ đẹp của các thiếu nữ khi khóc, ở đây nói tới tâm hồn tác giả đang ở nơi xa, vì nhớ quê nhà mà rơi lệ.

Lú Zhōu Yuè - Xǔ Sōng - Vae
Lư Châu Nguyệt (Trăng Lư Châu) - Hứa Tung
儿时凿壁偷了谁家的光
ér shí záo bì tōu le shuí jiā de guāng
Thuở nhỏ đục tường nhà ai để lấy trộm ánh sáng
宿昔不梳 一苦十年寒窗
sù xī bù shū yì kǔ shí nián hán chuāng
Khoảng thời gian xưa mười năm khổ luyện đèn sách
如今灯下闲读 红袖添香
rú jīn dēng xià xián dú hóng xiù tiān xiāng
Giờ đây dưới ánh đèn, nhàn hạ đọc “Hồng tụ thiêm hương”
半生浮名只是虚妄
bàn shēng fú míng zhǐ shì xū wàng
Hư danh nửa đời chỉ là vô căn cứ
三月 一路烟霞 莺飞草长
sān yuè yí lù yān xiá yīng fēi cǎo cháng
Tháng ba đi cùng mây mù, chim oanh tung cánh, cỏ cây đâm chồi
柳絮纷飞里看见了故乡
liǔ xù fēn fēi lǐ kàn jiàn le gù xiāng
Trong bông liễu bay tả tơi tôi nhìn thấy cố hương
不知心上的你是否还在庐阳
bù zhī xīn shàng de nǐ shì fǒu hái zài lú yáng
Không biết em ở trong lòng giờ đây phải chăng còn ở Lư Dương?
一缕青丝一生珍藏
yì lǚ qīng sī yì shēng zhēn cáng
Một lọn tóc đen một đời gìn giữ
桥上的恋人入对出双
qiáo shàng de liàn rén rù duì chū shuāng
Từng đôi tình nhân trên cầu đều có đôi có cặp
桥边红药叹夜太漫长
qiáo biān hóng yào tàn yè tài màn cháng
Để lại đóa thược dược ven cầu mãi thở than sao đêm dài vô tận
月也摇晃 人也彷徨
yuè yě yáo huàng rén yě páng huáng
Trăng cũng lung lay và người cũng do dự
乌蓬里传来了一曲离殇
wū péng lǐ chuán lái le yì qǔ lí shāng
Từ trong thuyền xưa vọng lại một khúc ly biệt đau thương
庐州月光 洒在心上
lú zhōu yuè guāng sǎ zài xīn shàng
Ánh trăng Lư Châu rắc lên trái tim tôi
月下的你不复当年模样
yuè xià de nǐ bú fù dāng nián mú yàng
Và em dưới ánh trăng đã không trở về bóng hình thưở ấy
太多的伤 难诉衷肠
tài duō de shāng nán sù zhōng cháng
Nỗi đau thật nhiều và khó kể hết nỗi lòng
叹一句当时只道是寻常
tàn yí gòu dāng shí zhǐ dào shì xún cháng
Ngâm câu ca: "Đương thời chỉ đạo thị tầm thường"
庐州「lú zhōu」"Lư Châu". phủ Lư Châu cũ, nay là Hợp Phì, tỉnh An Huy Trung Quốc.

凿壁偷光「záo bì tōu guāng」Tạc bích thâu quang.
Đục (khoét) tường để lấy trộm ánh sáng: Hiếu học, vượt qua mọi khó khăn để học tập (Do sử tích: Khuông Hành (Hoành) rất hiếu học, nhưng nhà lại quá nghèo. Khuông phải khoét vách cho ánh sáng nhà hàng xóm lọt sang để học).
宿昔不梳「sù xī bù shū」Túc tích bất sơ.
Thuở xưa sớm tối không chải tóc (Trích một câu trong: Tử Dạ Ca (văn học cổ điển Trung Quốc, đời Tấn) Xưa kia sớm tối không chải tóc, tóc xõa xuống hai vai). Qúa bận rộn đến nỗi không có dư thời gian để mà rửa mặt chải đầu.
十年寒窗「shí nián hán chuāng」Thập niên hàn song.
Mười năm bên cửa sổ lạnh: Bao năm đèn sách, mười năm gian khổ luyện tập đèn sách.
红袖添香「hóng xiù tiān xiāng」Hồng tụ thiêm hương.
Xuất xứ từ truyện: (Hoa Nguyệt Ngân) của Ngụy Tử An (đời Thanh), ý nói thư sinh trong lúc học tập có thiếu nữ xinh đẹp kề bên học cùng. Hồng tụ: nói về những thiếu nữ áo quần xinh tươi diễm lệ. cả câu trong bài hát có ý nói: Ngày xưa khổ luyện còn ngày nay lại có thời gian rãnh rỗi đọc truyện mỹ nữ.
三月一路烟霞 莺飞草长「sān yuè yí lù yān xiá yīng fēi cǎo cháng」Tam nguyệt nhất lộ yên hà oanh phi thảo trường.
Tháng ba ráng mây theo cỏ xanh oanh múa. tháng 3 đi cùng mây mù, chim oanh tung cánh, cỏ cây đâm chồi. Xuất xứ từ một bộ sách của Lương Khâu Trí (Nam Triều) trong đó có câu: "暮春三月,江南草长,杂花生树,群莺乱飞" chỉ nét đẹp tiết trời cuối xuân. Trong Truyện Kiều cũng có câu:
“Thanh minh trong tiết tháng ba, lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến oanh, chị em sắm sửa bộ hành du xuân.” có lẽ cũng mang nghĩa này.
一缕青丝一生珍藏「yì lǚ qīng sī yì shēng zhēn cáng」Nhất lũ thanh ti nhất sanh trân tàng.
Một lọn tóc đen, cả đời gìn giữ. Sợi tóc là vật dẫn (phương tiện truyền đạt) tình cảm của các cô gái thời cổ của Trung Quốc, thường gửi gắm cho người đàn ông mà nàng thương yêu cất giữ. ở Việt Nam ta các cô gái thời xưa cũng thường dùng chiếc khăn tay để làm vật tín với người yêu.
桥边红药叹夜太漫长「qiáo biān hóng yào tàn yè tài màn cháng」Kiều biên hồng dược thán dạ thái mạn trường.
Thược dược than dài nức nở dạ miên. để lại đóa thược dược ven cầu mãi thở than sao đêm dài vô tận.
Trong bài thơ ”Dương Châu mạn” của Khương Quỳ có hai câu thơ:
"二十四桥仍在,波心荡,冷月无声。念桥边红药,年年知为谁生。"
“Nhị thập tứ kiều nhưng tại, ba tâm đãng, lãnh nguyệt vô thanh. Niệm kiều biên hồng dược, niên niên tri vi thùy sanh.”
Kể rằng những đóa hoa thược dược bên cầu hằng năm vẫn nở rộ, hoa lá xum xuê, nhưng lại không có ai đến thưởng thức, không biết hoa vì ai mà nở, mà sinh ra? Trong bài nói đến sự cô đơn, người người đều có đôi có cặp, chỉ còn mình lẻ loi.
庐阳「lú yáng」"Lư Dương". (đời nhà Minh) Hợp Phì có biệt danh là Lư Dương, ngày nay ở Hợp Phì có khu du lịch là "Lư Dương tám cảnh"

乌篷里传来了一曲离殇「wū péng lǐ chuán lái le yì qǔ lí shāng」Ô bồng lí truyện lai liễu nhất khúc li thương.
Ô bồng thuyền sầu não khúc chia ly. Nguyên văn ở đây là từ trong ô bồng (chiếc thuyền) xưa vọng lại một khúc ly biệt đau thương.

叹一句当时只道是寻常「tàn yí gòu dāng shí zhǐ dào shì xún cháng」Thán nhất cú đương thì chỉ đạo thị tầm thường.
Ngâm khúc đương thời nhẹ bẫng thường chi, "ngâm khúc đương thời chỉ đạo thị tầm thường" là một câu thơ của nhà thơ Nạp Lan Tính Đức, nói lên sự hối hận chạy theo hạnh phúc mình đã lỡ đánh mất đi. Để giờ đây cảm giác rằng cuộc sống sao quá tầm thường. Muốn được cùng người ấy lại một lần nữa, nhưng có lẽ chỉ là trong mơ. Nếu sớm biết được tình cảnh thê lương này, thì giờ đây đã có thể tiếp tục những khoảng thời gian hạnh phúc bên người ấy. Nó sẽ khắc ghi mãi trong tim, mất rồi mới phát hiện…
庐州月光 梨花雨凉「lú zhōu yuè guāng lí huā yǔ liáng」Lư Châu nguyệt quang lê hoa vũ lương.
Câu này được trích từ: 《长恨歌》“玉容寂寞泪阑干,梨花一枝春带雨。”
《Trường hận ca 》"Ngọc dung tịch mịch lệ lan kiền, lê hoa nhất chi xuân đái vũ."
Nghĩa là: "Trăng Lư Châu đẹp như hoa lê dính / đọng hạt nước mưa". Nguyên bản trong 1 bài thơ Bạch Cư Dị dùng để miêu tả vẻ đẹp của Dương quý phi khi nàng khóc.
Sau này người ta thường dùng “梨花带雨” để miêu tả vẻ đẹp của các thiếu nữ khi khóc, ở đây nói tới tâm hồn tác giả đang ở nơi xa, vì nhớ quê nhà mà rơi lệ.

Tự viết





Website này không hỗ trợ trình duyệt Internet Explorer 6.
多想把你抱住 - 高进 - Rất muốn ôm chặt em vào lòng
忘了我忘不了你 - 饶天亮 - Anh không thể quên em - Nhi


Số lượt khách: 3021125


Phải chăng bạn có ý không hài lòng? nếu bạn không vừa ý mình sẽ xóa phần đó, và chỉ để phần dịch của vuivui.cn!
àh mà bạn chưa đăng ký thành viên nên có phần nội dung đã bị ẩn vì thế nên bạn chưa xem kỹ rồi đấy bạn àh...